Trí tuệ sinh thái: Từ kiến thức đến hành động thực tế
Trí tuệ sinh thái là gì? Trí tuệ sinh thái (TTST) liên quan như thế nào đến kiến thức sinh thái (KTST)? Để đưa TTST từ kiến thức đến hành động thực tế, bài viết thảo luận về TTST “sống chung với lũ” tại vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) của Việt Nam, tập trung vào khía cạnh thích ứng với điều kiện thực tế. Trên cơ sở đó, bài viết rút ra các bài học từ TTST cho các thành phố nhằm tăng cường khả năng thích ứng với lũ.

 Trí tuệ sinh thái là gì? Năm 1973, nhà triết học Na Uy, Arne Naess, đã đưa ra thuật ngữ “ecosophy” để tạo ra một từ đồng nghĩa với TTST, đây là một tên gọi mới về thái độ của con người đối với tự nhiên (Naess, 1973). Ban đầu, Arne Naess cho rằng “ecosophy hay triết lý sinh thái” là: “Triết lý hòa hợp hoặc tính cân bằng về sinh thái” – một loại trí tuệ mà Plato gọi là Sophia, tức là sự khôn ngoan về mặt lý thuyết. Khái niệm này liên quan đến việc “Làm thế nào để sống trên trái đất mà có thể tận hưởng và tôn trọng sự giàu có, đa dạng của các dạng sống thuộc về hệ sinh thái” (Naess, 1989). Sau đó, bằng cách lập luận rằng TTST là một hình thức triết học, Xiang (2014, 2016) đã tái khẳng định khái niệm TTST trong bối cảnh thực hành sinh thái. Xiang (2014) cho rằng TTST vừa là trí tuệ mang tính cá nhân, vừa mang tính tập thể, không chỉ tượng trưng cho sự khôn ngoan mà còn tượng trưng cho trí tuệ thực dụng. Để nhấn mạnh khía cạnh thực tiễn của TTST, Xiang (2016) đưa ra khái niệm ecophronesis (thực hành sinh thái) và định nghĩa khái niệm này là “kỹ năng xuất sắc trong việc sử dụng tri thức để đưa ra những lựa chọn đúng đắn và từ đó hành động đúng đắn trong bất kỳ trường hợp thực hành sinh thái nào”.

Do ít được khám phá nên các bài thuyết giảng về TTST hiện nay đa phần xoay quanh hai thuật ngữ: Triết học sinh thái và thực hành sinh thái, cũng như việc kết hợp cả hai vào khái niệm TTST. Từ đó, có những câu hỏi nghiên cứu được đặt ra, bao gồm: Liệu triết học sinh thái có hình thành nên thực hành sinh thái? Liệu thực hành sinh thái có thể củng cố hoặc đem lại ý nghĩa nào đó cho triết học sinh thái? Nếu TTST về cơ bản là “phương pháp đúng đắn để làm điều đúng đắn”, thì liệu triết học sinh thái có quan tâm đến điều “đúng đắn” này hay không – Hoặc những điều đúng đắn trong thực hành sinh thái là gì? Làm thế nào để những điều đúng đắn đó được thực hiện? Vì TTST là một khả năng có thể thay đổi tùy thuộc vào từng ngữ cảnh nên điều đúng đắn với vai trò là một giải pháp khôn ngoan phù hợp với quy luật sinh thái có cần phải được xác định cụ thể hay không?

Các nhà thực hành sinh thái đã bắt đầu suy nghĩ nhiều hơn về việc vận dụng tri thức sinh thái. Khi thực hiện điều “đúng đắn”, người thực hành sinh thái khôn ngoan đã tìm ra các giới luật triết học có thể hướng dẫn tốt hơn hoặc điều chỉnh cân bằng mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên. Trong lịch sử, ngoài triết lý sinh thái của Naess, cũng có những đề xuất tương tự liên quan đến mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên. Ví dụ, Lão Tử (571 TCN – 471 BC) đã lập luận rằng: “Con người tuân theo các quy luật của Trái đất; Trái đất tuân theo các quy luật của Trời; Thiên đàng tuân theo các luật phổ quát; các quy luật phổ quát chính là các quy luật tự nhiên”. Học giả Nassim Nicholas Taleb (2012) gần đây cũng lập luận rằng: “Những gì mẹ thiên nhiên làm là những điều phù hợp và đúng đắn; những gì con người và khoa học đã làm đang dẫn đến những sai lầm nghiêm trọng”. Điều này cho thấy xu thế ủng hộ quan điểm “đi theo chỉ dẫn của tự nhiên” hiện nay.

Tuy nhiên, các hướng dẫn triết học vẫn còn khá trừu tượng, khó có thể dẫn lối cho hành động thực tế. Để TTST có thể biến thành hành động, cần có các nguyên tắc TTST – những chỉ dẫn rõ ràng mà một nhà thực hành sinh thái có thể làm theo để phát triển các giải pháp sinh thái khôn ngoan cho một vấn đề thực tiễn. Trong lĩnh vực quy hoạch và thiết kế sinh thái, những chỉ dẫn như vậy đã được đưa ra. Một trong số đó là “Thiết kế dựa vào thiên nhiên” của KTS cảnh quan Ian McHarg (1969) – một phương pháp phát triển đất đai có hệ thống nhằm tránh những khu vực nhạy cảm với môi trường và thiết kế gắn với động lực học tự nhiên. Tương tự như vậy, trong cuốn Thiết kế Sinh thái, Van der Ryn & Cowan (1996) đã đề xuất “5 nguyên lý thiết kế sinh thái” – bao gồm: Giải pháp thích ứng với địa điểm; tính toán ảnh hưởng của thiết kế lên hệ thống sinh thái; thiết kế hài hòa với thiên nhiên; mọi người đều là một nhà thiết kế; tìm hiểu về thiên nhiên. Nhìn chung, triết lý liên quan đến mối quan hệ giữa con người và tự nhiên vẫn còn rất trừu tượng, do đó cần được tiếp tục khám phá để tìm ra những đầu mối nhằm xác định rõ các nguyên tắc của TTST trong thực hành sinh thái.

– Mối liên hệ giữa trí tuệ sinh thái và kiến thức sinh thái: Kiến thức sinh thái (KTST) và TTST được coi là có liên hệ gần gũi nhau, nhấn mạnh vào việc ứng dụng thực tiễn các kiến thức để thực hiện các hành động khôn ngoan. Xiang (2014) cho rằng: “TTST là một hình thức đặc biệt của kiến thức sinh thái bao gồm những hiểu biết lâu dài của cá nhân hoặc một nhóm các cá nhân”. Liao (2016) trong nghiên cứu về “Trí tuệ sinh thái sống chung với lũ” tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) của Việt Nam đã diễn giải: “Sống chung với lũ là một biểu hiện của TTST, là quyết định khôn ngoan, là cách mà con người tương tác với thiên nhiên dựa trên kiến thức về thiên nhiên”. Theo quan điểm của Liao, TTST tại vùng ĐBSCL là kinh nghiệm quan sát qua nhiều thế hệ, là sự tổng hợp các kiến thức từ động lực học của lũ và các quy luật tự nhiên. Tuy nhiên, KTST có thể bị lạm dụng và không thể dẫn lối cho thực tế nếu không được soi sáng bằng các hành động khôn ngoan. Do đó, kiến thức chưa hẳn đã dẫn đến trí tuệ, nhưng lý thuyết hiện tại vẫn cho thấy trí tuệ vẫn cần một số kiến thức.

Lối sống chung với lũ tại ĐBSCL: sử dụng nhà sàn để đễ dàng thoát lũ và không gian phía dưới được thiết kế để chứa đồ đạc trong mùa lũ. Nguồn: (Liao, Le et al. 2016)
 
Cầu đi bộ một giải pháp giao thông trong mùa lũ. Nguồn: Ảnh trái
(Lê Thị Phương Đông), ảnh phải (Liao, Le et al. 2016)
 

Khám phá mối quan hệ giữa TTST và KTST có thể đem lại hiệu quả đặc biệt trong thực hành sinh thái vì bối cảnh ngày nay. Thứ nhất, xã hội loài người có nhiều KTST hơn trước đây nhưng loài người tiếp tục duy trì các biện pháp tác động tiêu cực đến môi trường với tốc độ và quy mô chưa từng thấy. Điều này cho thấy các KTST bổ sung vẫn chưa phù hợp với thực hành sinh thái bền vững. Thứ hai, nền văn minh đô thị có ít liên hệ với môi trường tự nhiên và do đó có ít KTST hơn. Nếu thực hành sinh thái đòi hỏi cần đủ KTST thì làm thế nào các đô thị hiện nay có thể đạt được thực hành sinh thái bền vững. Cuối cùng, các nhà thực hành sinh thái hiện nay thường phải thực hiện các dự án ở các địa điểm mà họ không quen thuộc về sinh thái. Làm thế nào để họ có thể làm được những điều đúng đắn trong khi không có KTST sâu sắc về một địa điểm cụ thể? Do đó, TTST từ kiến thức đến hành động thực tế có thể giải đáp những nút thắt này, đưa ra được các phương pháp đúng đắn để tạo nên những lợi ích thực tế và lâu dài trong công tác quy hoạch cảnh quan và đô thị, hoặc ít nhất là có khả năng giảm thiểu hoặc tránh tạo ra những ảnh hưởng xấu thực tế và lâu dài.